Chào mừng quý vị đến với website của Nguyễn Minh Đức
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Cảm nhận một bài thơ, đoạn thơ hoàn toàn xa lạ:
1. Tìm hiểu sơ bộ:
Tìm hiểu về tác giả, hoàn cảnh ra đời (hoàn cảnh chung, hòan cảnh cụ thể), nghĩa của từ ngữ, đại ý của bài, đọc vang lên hay ngâm ngợi nếu cần, để đoán định cái điều muốn nói của tác giả. Ví dụ hai câu trong truyện Kiều:
Ngoài nghìn dặm chốc ba đông
Mối sầu muốn gỡ cho xong còn chầy.
Mới đọc thấy khó hiểu, bởi vì những nét dư đã bị lược tối đa. Nhưng nếu đọc to hay ngâm nga, ta sẽ khôi phục những nét dư và hiểu được như sau: Ở xa ngoài nghìn dặm, một chốc dài bằng ba đông (ba năm). Ba đông đâu dễ là một chốc, cho nên mối sầu muốn gỡ cho xong được thì còn chầy (còn lâu lắm).
2. Tìm hiểu chi tiết:
Một mặt vẫn đọc đi đọc lại để lắng nghe bằng trực cảm, xem có phát hiện thêm gì không, mặt khác, bằng lý trí, đi sâu phân tích kết cấu, chi tiết, nhạc điệu, giọng điệu, ngôn từ… Tùy từng tác phẩm mà các yếut ố trên có giá trị hoặc không có giá trị, giá trị nhiều hay giá trị ít. Ơ đây, chỉ nêu ví dụ về 3 yếu tố có giá trị biểu đạt thường thấy trong thơ trữ tình: kết cấu, giọng điệu và ngôn từ.
Kết cấu (hay cấu tứ) là cách tổ chức các lớp lang trong bài thơ trữ tình, từ đó thấy được mạch cảm xúc của tác giả. Ví dụ kết cấu bài Ong đồ cho thấy quá trình tàn tạ của lớp nhà nho: ông đồ từ chỗ được tấm tắc ngợi khen tài (thời vàng son), tới mỗi năm mỗi vắng (thời suy thóai) rồi qua đường không ai hay (thời tàn tạ, có cũng như không) và cuối cùng trở thành những người muôn năm cũ (biến mất hẳn), chỉ còn lại chút dư vị ngậm ngùi: hồn ở đâu bấy giờ…
Giọng điệu: là yếu tố khá mơ hồ, ban đầu thường chỉ nhận biết qua trực cảm. Tuy nhiên khi đã cảm nhận được, ta có thể sờ thấy giọng điệu ở một số chữ, thậm chí một cái dấu câu, ví dụ, về sáu câu mở đầu truyện Kiều, nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến cho rằng (tóm tắt ý): điều quan trọng trong đọan này không phải là nêu cái luật óai oăm, ác hại trong cõi người ta (tài mệnh tương đố, bỉ sắc tư phong, hồng nhan bạc mệnh), mà là cái giọng “không thản nhiên” khi ghi lại những cái luật này: Trăm năm trong cõi người ta/ Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau. Từ “khéo là” có bao nhiêu nghĩa thì cái giọng của tác giả ở đây có bấy nhiêu sắc thái: mỉa mai, hờn mát, đay đả, bỡn cợt, châm chọc,… Nói cách khác, tài mệnh tương đố không phải là tư tưởng của truyện Kiều mà là ở cái giọng của tác giả khi nói về tư tưởng này, ở chữ khéo là xen vào câu thơ. Các chữ: lạ gì, quen thói ở hai câu tiếp cũng vậy, nó thể hiện cái giọng đay nghiến, bực tức chán ngán, không bao giờ là thái độ thiện cảm.
Thâu tóm (còn gọi là tổng hợp, viên thành, kết luận): Liên hệ các yếu tố đã phân tích, để thấy sự tương quan, thống nhất giữa chúng. Đối chiếu với cảm nhận ban đầu xem có thống nhất không, (nếu không, làm lại từ bước một), đặt chúng trong hệ thống lớn hơn (bài thơ, tác giả, đề tài, trào lưu)… để đánh giá.
Điều thứ hai, rèn luyện qua đọc văn, còn quan trọng hơn, nhưng không ai có thể dạy được, mà phải tự mình rèn luyện. Lời khuyên này là đọc nhiều kết hợp với sống thật, nghĩ thật, mọi lý thuyết chỉ hỗ trợ, không nên để nó trói buộc tư duy và cảm xúc của riêng mình. Sống thật, nghĩ thật, giúp ta đọc chính xác tác phẩm hơn. Một người bình dân có thể hiểu truyện Kiều tốt hơn một giáo sư văn học! Vả lại, nghĩa tác phẩm không chỉ phụ thuộc vào ý đồ của tác giả mà còn do người đọc kiến tạo. Một tâm hồn phong phú, sâu sắc sẽ tạo cho tác phẩm (tất nhiên phải là tác phẩm hay) những ý nghĩa bất ngờ, có giá trị.
Sưu tầm
Nguyễn Minh Đức @ 15:44 19/01/2013
Số lượt xem: 384
- Về một phương pháp dạy học văn trong trường phổ thông (19/01/13)
- Thi hào Nguyễn Du viết “Truyện Kiều” khi nào? (19/01/13)
- Hai mươi điều thầy cô cần nhớ (19/01/13)